ĐÁNH GIÁ ĐỒNG HỒ ĐEO TAY SỐ LA MÃ

 

 

https://casiovietnam.net/dong-ho-nu-casio-lrw-250h-1a3vdf-day-nhua-mau-den-vien-mat-mau-hong

https://casiovietnam.net/dong-ho-nu-casio-lrw-250h-1a2vdf-day-nhua-den-vien-mat-mau-hong

https://casiovietnam.net/dong-ho-nu-casio-lrw-250h-1a1vdf-day-nhua-mau-den-chong-nuoc-100m

 

 

 

– – – – – – – –   Đồng hồ đeo tay số La Mã là gì?

So Sánh Đồng Hồ Đeo Tay Số La Mã Và Đồng Hồ Đeo Tay Số Học Trò Mặt Số La Mã✦   Chỉ chung những chiếc đồng hồ có sử dụng số La Mã (Roman) cho vị trí giờ… Hầu hết đồng hồ chỉ dùng số từ một đến mười hai gồm: I (một), II (hai), III (ba), IIII (bốn) hoặc IV (bốn), V (năm), VI (sáu), VII (bảy), VIII (tám), IX (chín), X (mười), XI (mười một), XII (mười hai).

✦   Mỗi số La Mã tương ứng với một vị trí giờ cụ thể nhưng có một “quy tắc bất thành văn” hơn nửa thiên niên kỷ qua đó là số IV sẽ được viết thành IIII do nhiều lý do (tôn giáo, thẩm mỹ, tránh nhầm lẫn với VI…). Tất nhiên, quy tắc được chấp nhận bởi số đông nhà sản xuất đồng hồ này vẫn có số ít trường hợp không tuân thủ.

✦   Ngoài ra, để gọi là đồng hồ đeo tay số La Mã thì không bắt buộc toàn bộ vị trí giờ phải dùng số La Mã, có thể là chỉ một hoặc một vài nếu nó được kết hợp với Vạch Chỉ (bao gồm đường in thẳng, chấm in tròn, viên đá, khối chữ nhật, …). Nhưng nếu số La Mã xen lẫn với số Học Trò thì sẽ có tên là “California” chứ không còn gọi là “La Mã” nữa.

 

ƯU ĐIỂM CỦA MẶT ĐỒNG HỒ ĐEO TAY SỐ LA MÃ

▬    Truy nguồn gốc, số La Mã bắt đầu được sử dụng trên đồng hồ từ tận thế kỷ 15 (những năm 1400), khi mà nghề làm đồng hồ chỉ mới bắt đầu phát triển. Từ đó cho đến nay đã hơn nửa thiên niên kỷ, một khoảng thời gian quá dài để có thể nói lên tính truyền thống, sự cổ điển và vĩnh cửu không gì có thể bàn cãi.

So Sánh Đồng Hồ Đeo Tay Số La Mã Và Đồng Hồ Đeo Tay Số Học Trò Roman 1Bộ đôi mặt số La Mã và dây da luôn thể hiện rõ nét khí chất thanh tao

 

▬    Bỏ qua yếu tố lịch sử, dễ dàng nhận thấy số La Mã có hình dạng phức tạp, nhiều nét, thể hiện sự đối xứng qua trong bản thân tất cả các số và giữa các số với nhau. Do đó kiểu mặt đồng hồ đeo tay số La Mã luôn được xem là biểu tượng của sự tinh tế, nghệ thuật, thể hiện sự thanh lịch, sang trọng. Càng nhiều số càng cổ điển.

▬    Qua những điều trình bảy ở trên, hẳn bạn đã thấy được các mẫu đồng hồ đeo tay số La Mã thích hợp nhất cho những yêu cầu về sự thanh lịch, cổ điển và chín chắn của người làm việc văn phòng, bàn giấy, kinh doanh, giao tiếp khách hàng, người trên 30 tuổi.

▬    Đặc biệt đối với riêng nam giới, đồng hồ đeo tay số La Mã (có độ dày vừa đến mỏng, siêu mỏng) còn là lựa chọn không thể phù hợp hơn cho các bữa tiệc tối hay đồ vest trang trọng, thể hiện vẻ ngoài lịch thiệp mà không mất đi sự nam tính và phẩm vị thẩm mỹ sâu sắc.

 

YẾU ĐIỂM CỦA MẶT ĐỒNG HỒ ĐEO TAY SỐ LA MÃ

●   Nếu sự phức tạp đã đem lại vẻ ngoài thanh tao cho các mẫu đồng hồ đeo tay số La Mã thì cũng lấy đi khả năng đọc dễ dàng của nó. Do có nhiều chi tiết, mặt số La Mã luôn bị đánh giá là khó đọc, khó tương thích với thời trang vận động, hay việc chơi thể thao.

So Sánh Đồng Hồ Đeo Tay Số La Mã Và Đồng Hồ Đeo Tay Số Học Trò Roman 2Nhưng đồng hồ đeo tay số La Mã cũng thường là sản phẩm mỏng manh yếu đuối

 

●   Thêm vào đó, thể hiện quá tuyệt đối vẻ cổ điển-truyền thống, đồng hồ đeo tay số La Mã thường chỉ thích hợp với người từ 30 tuổi trở lên và được xem là khá già dặn đối với những ai dưới độ tuổi này khi không đi cùng các loại trang phục có tính trang trọng, trang phục công sở.

●   Cuối cùng, đồng hồ đeo tay số La Mã thường được thiết kế để nhấn mạnh vẻ tao nhã, bởi thế, nó thường không có tính năng thể thao nào, khả năng chịu nước, chịu sốc cũng chỉ ở mức trung bình cho cho các việc nhẹ nhàng, ít có mối nguy hại, rủi ro.

 

“Số La Mã hay chữ số La Mã là hệ thống chữ số cổ đại, dựa theo chữ số Etruria. Hệ thống chữ số La Mã dùng trong thời cổ đại đã được người ta chỉnh sửa sơ vào thời Trung Cổ để biến nó thành dạng mà chúng ta sử dụng ngày nay.

Hệ thống này dựa trên một số ký tự nhất định được coi là chữ số sau khi được gán giá trị như I (một), V (năm), X (mười), L (năm mươi), C (một trăm), D (năm trăm), M (một ngàn).