Gừng, còn được gọi là gốc gừng, có nguồn gốc từ một số vùng của châu Á như, Trung Quốc và Ấn Độ. Thuật ngữ ‘gừng’ được sử dụng để biểu thị thân rễ ăn được của cây Zingiber officinale , thuộc họ Zingiberaceae , cùng với củ nghệ và thảo quả. Gừng rất phổ biến trên toàn cầu, như một loại thảo dược cũng như gia vị. Người ta tin rằng gừng đã được sử dụng trong y học cổ đại Trung Quốc và Ấn Độ, để điều trị các bệnh khác nhau như cảm lạnh, ho, tiêu chảy, khó tiêu và thấp khớp. Các đặc tính thuốc của gừng đã được đề cập trong các tác phẩm của các học giả Trung Quốc Khổng Tử và trong các bản văn Ayurvedic cổ đại của Ấn Độ. Từ châu Á, loại thảo mộc này đã tìm đường đến Rome và các nước châu Âu khác và hiện đang được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu.

Giá trị của thuốc gừng

Như đã đề cập ở trên, gừng là một trong những loại thảo mộc đã được sử dụng cho mục đích điều trị, trong một thời gian rất dài. Nó đã được sử dụng để điều trị cảm lạnh, ho, rối loạn tiêu hóa, chuột rút kinh nguyệt và các vấn đề sức khỏe khác. Loại thảo dược này được cho là có sức mạnh kích thích tình dục và cũng được đề cập trong ‘Kama Sutra’. Gừng được sử dụng để làm giảm say tàu xe và ốm nghén. Nó có đặc tính kháng viêm và được sử dụng để giảm đau và viêm kết hợp với viêm khớp, thấp khớp và chuột rút cơ bắp. Gừng được cho là hữu ích cho việc đào thải đờm tích lũy trong phổi và do đó, được tìm thấy là có hiệu quả trong điều trị các bệnh về đường hô hấp như hen phế quản và viêm phế quản. Nó có thể kích thích lưu thông máu và cũng hữu ích trong việc loại bỏ độc tố khỏi cơ thể. Loại thảo mộc này có tính chất làm loãng máu và giảm cholesterol, có lợi cho việc giảm nguy cơ mắc bệnh tim. Gừng lợi ích sức khỏe gốc được cho là do các thành phần hoạt động của nó như, gừng, zingibain, bisabolenel, oleoresins, tinh bột, chất nhầy và tinh dầu (zingiberene, zingiberole, camphene, cineol, borneol).

Tác dụng phụ

  • Phổ biến nhất trong số các tác dụng phụ gừng là ợ nóng, tiêu chảy và kích thích miệng.
  • Ở một số người, việc sử dụng rễ gừng kéo dài có thể dẫn đến phát ban khô và có vảy, phát triển ban đầu trên mặt.
  • Một tác dụng phụ gừng khác, kết hợp với việc sử dụng lâu dài của nó là nhạy cảm thị giác với ánh sáng.
  • Tiêu thụ rễ gừng không được khuyến cáo cho những người bị sỏi mật, vì loại thảo dược này làm tăng sản xuất mật.
  • Gừng nên tránh những người dùng thuốc làm loãng máu. Ngay cả những người đang chuẩn bị phẫu thuật cũng phải tránh gừng dưới bất kỳ hình thức nào.
  • Những người đang dùng thuốc cho bệnh tiểu đường và huyết áp cao không được dùng gừng.
  • Gừng không nên được tiêu thụ bởi những người bị rối loạn chảy máu, loét và bệnh viêm ruột.
  • Phụ nữ mang thai được yêu cầu tránh gừng, vì loại thảo dược này có thể gây ra các cơn co thắt tử cung. Các bà mẹ cho con bú cũng phải tìm kiếm ý kiến ​​chuyên gia, trước khi dùng gừng.
  • Nó cũng đã được nhận thấy rằng một số người bị dị ứng, phát triển các tác dụng phụ như phát ban da.
  • Trong một số trường hợp hiếm gặp, kích ứng mắt và mắt hồng cũng liên quan đến việc tiêu thụ gừng.
  • Ngoài ra còn có các báo cáo, cho thấy rằng gừng có thể ảnh hưởng đến huyết áp và nhịp tim.

Trong ngắn hạn, gừng là một loại thảo mộc an toàn được sử dụng rộng rãi cho các mục đích nấu ăn cũng như dược liệu. Mặc dù hiếm, tác dụng phụ gừng có thể phát triển ở một số người. Trong hầu hết các trường hợp, các tác dụng phụ như vậy có liên quan đến việc uống bột gừng, sử dụng lâu dài rễ gừng hoặc quá liều. Gừng không được tìm thấy gây ra bất kỳ tác dụng phụ, nếu dùng ở liều thấp. Gừng cũng có thể tương tác với các loại thuốc khác, thảo dược hoặc chất bổ sung và tạo ra các biến chứng. Do đó, nó là rất quan trọng để tìm kiếm ý kiến ​​của bác sĩ của bạn trước khi sử dụng loại thảo dược này cho mục đích y học. Việc điều trị bằng thảo dược này phải được thực hiện dưới sự giám sát của một chuyên gia thảo dược có trình độ.